Đăng ảnh khiêu dâm trên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?

29/10/2021
Đăng ảnh khiêu dâm trên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?
731
Views

Khiêu dâm là gì? Tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy là gì? Đăng ảnh khiêu dâm trên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?

Chào Luật sư, tôi thường xuyên cập nhật thông tin trên mạng xã hội; nhưng gần đây tôi thường thấy những bài đăng hình ảnh, video nhạy cảm mang tính khiêu dâm. Điều này khiến tôi gặp khá nhiều rắc rối với vợ và đồng nghiệp. Xin hỏi chủ tài khoản của những hình ảnh này có bị phạt hay không và bị phạt như thế nào? Cám ơn Luật sư!

Cám ơn chị đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật 247, chúng tôi có những giải đáp sau:

Căn cứ pháp lý

Bộ Luật Hình sự năm 2015

Nghị định số 178/2004/NĐ-CP

Khiêu dâm là gì? Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là gì?

Căn cứ Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP quy định khiêu dâm “là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục”.

Văn hóa phẩm đổi trụy bao gồm: Tranh ảnh, báo, tạp chí, băng, đĩa, truyện… có nội dung đồi trụy; những vật phẩm này có thể là phương tiện chứa nội dung đồi trụy và cần phải bị cấm truyền bá. Vậy, hình ảnh khiêu dâm là vật phẩm có chứa nội dung đồi trụy; là vật bị cấm truyền bá theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là phổ biến cho người khác biết các vật phẩm có tính chất ăn chơi đàng điếm; dâm ô; hoặc khêu gợi những ý thức thúc đẩy con người thỏa mãn lối sống ăn chơi đàng điếm; dâm ô bằng các thủ đoạn như: làm ra; sao chép; lưu hành; vận chuyển; sử dụng; mua bán; tàng trữ nhằm phổ biến; hoặc có hành vi khác truyền bá những vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy.

Hành vi truyền bá các vật phẩm mang tính chất đồi trụy có thực hiện bằng nhiều hành vi cụ thể khác nhau như: Làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến hoặc hành vi khác.

Cấu thành tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy

* Chủ thể

Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định pháp luật.

* Khách thể

Xâm phạm đến truyền thống văn hóa của dân tộc; xâm phạm đến những giá trị vật chất và tinh thần loài người; xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về việc duy trì; phát triển nếp văn hóa văn minh; mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

* Mặt khách quan

Hành vi

– Người phạm tội thực hiện hành vi truyền bá cho người khác biết các vật phẩm có tính chất đồi trụy thông qua nhiều thủ đoạn như:

+ Làm ra vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy như: tranh, ảnh, quay phim,… có tính chất khiêu gợi những ý định thúc đẩy con người thỏa mãn lối sống ăn chơi đàng điếm, dâm ô…

+ Sao chép vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy là từ một vật phẩm đầu tiên; tạo ra nhiều vật phẩm khác giống như vật phẩm ban đầu có tính chất đồi trụy.

+ Lưu hành vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy là cho người khác xem; mượn; thuê các vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy.

 + Vận chuyển vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy là chuyên chở các vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy từ nơi này đến nơi khác.

+ Mua bán vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy là dùng tiền; hoặc tài sản để trao đổi lấy vật phẩm văn hóa có tính chất; hoặc dùng vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy để trao đổi lấy tiền hoặc tài sản.

+ Tàng trữ vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy là cất giữ các vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy ở một địa điểm nhất định như: Cơ quan, nhà ở, trong người, phương tiện giao thông,…

 + Ngoài các hành vi trên thì người phạm tội còn có những hành vi khác phổ biến cho người khác biết các vật phẩm có tính chất ăn chơi đàng điếm, dâm ô hoặc khêu gợi, thúc đẩy con người thỏa mãn lối sống ăn chơi đàng điếm, dâm ô.

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tùy từng trường hợp người phạm tội có thể bị phạt tù lên đến 15 năm.

Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, ngoài các hành vi khách quan và hậu quả nêu trên, pháp luật còn quy định các hành vi khách quan khác, đó là: Dung lượng dữ liệu được số hóa từ 01 GB đến dưới 05 GB; số lượng sách in, báo in từ 50 – 100 đơn vị; số lượng ảnh bản giấy từ 100 ảnh đến 200 ảnh; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Nếu không thỏa mãn một trong những dấu hiệu trên thì hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy sẽ không cấu thành tội phạm.

* Mặt chủ quan

Người phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thực hiện hành vi của mình là do cố ý. Mục đích của người phạm tội là nhằm phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy cho người khác với nhiều động cơ khác nhau.

Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này; nếu một người có các hành vi làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ hoặc có hành vi khác nhưng không nhằm phổ biến cho người khác thì cũng không cấu thành tội này.

Truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ Điều 326 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định các mức xử phạt tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy như sau:

* Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Đối với người làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy trong trường hợp:

– Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

– Sách in, báo in có số lượng từ 50 đơn vị đến 100 đơn vị;

– Ảnh bản giấy có số lượng từ 100 ảnh đến 200 ảnh;

– Phổ biến cho 10 người đến 20 người;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

* Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

Đối với người truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy:

– Có tổ chức;

– Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 05 gigabyte (GB) đến dưới 10 gigabyte (GB);

– Sách in, báo in có số lượng từ 51 đơn vị đến 100 đơn vị;

– Ảnh bản giấy có số lượng từ 201 ảnh đến 500 ảnh;

– Phổ biến cho 21 người đến 100 người;

– Đối với người dưới 18 tuổi;

– Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

– Tái phạm nguy hiểm.

* Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Đối các trường hợp sau:

– Dữ liệu được số hóa có dung lượng 10 gigabyte (GB) trở lên;

– Sách in, báo in có số lượng 101 đơn vị trở lên;

– Ảnh bản giấy có số lượng 501 ảnh trở lên;

– Phổ biến cho 101 người trở lên.

* Phạt bổ sung

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Kết luận

Đối với những người đăng ảnh mang tính khiêu dâm trên mạng xã hội đã vi phạm điểm g khoản 2 Điều 326 Bộ Luật Hình sự 201. Những người này có thể bị xử phạt từ 3 năm đến 10 năm tù, vì truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy trên mạng internet, điều này gây ảnh hưởng đến rất nhiều người bởi tính phổ biến của mạng xã hội.

Có thể sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Mời bạn xem thêm

Sản xuất phim có cảnh nhạy cảm bị xử lý thế nào?

Đăng video mê tín dị đoan trên mạng xã hội xử phạt ra sao?

Tung tin giả trên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?

Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm thế nào?

Ảnh bị cắt ghép đăng tải mạng xã hội bị xử lý thế nào?

Trên đây là tư vấn của Luật sư 247 về vấn đề “Đăng ảnh khiêu dâm trên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?“. Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc giải đáp những vấn đề pháp lý khó khăn; vui lòng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật hoặc liên hệ hotline: 0833102102

Câu hỏi thường gặp

Quay lén người khác bị xử phạt như thế nào?

– Theo quy định tại điểm e Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, người có hành vi thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
– Nếu người có hành vi sử dụng hình ảnh, thông tin đã quay lén của người khác với mục đích làm nhục, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, làm giảm uy tín của cá nhân thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự năm 2015.

Thế nào là dâm ô?

Dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục.

Đánh giá bài viết
Chuyên mục:
Hình sự

Trả lời