Hành vi cướp tài sản sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?

22/08/2021
Hành vi cướp tài sản sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?
787
Views

Với tình hình kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, tần suất xảy ra các vụ cướp tài sản diễn ra ngày càng nhiều. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập tới vụ cướp tài sản mới diễn ra gần đây, và nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận.

Tóm tắt vụ việc

Chiều 17/8, Phạm Hữu Nghĩa (sinh năm 1989) xông vào nhà chị Trần Thị Kim P. (sinh năm 1984), dùng dao Thái Lan, rựa sắt và ống túyp sắt đe dọa, yêu cầu chị P. phải đưa số tiền 50 triệu đồng.

Lúc này, chị P. nói với Nghĩa trong nhà không có tiền nên sẽ sang nhà người quen để lấy tiền. Nghĩa đồng ý.

Khi vừa thoát được ra ngoài, chị P. đã khóa trái cửa rồi chạy sang tri hô hàng xóm đến giúp đỡ. Lúc này, Công an xã Phú Hội đang tuần tra gần đó đã nhanh chóng hỗ trợ bắt giữ Nghĩa cùng tang vật.

Vậy hành vi cướp tài sản này sẽ bị xử lý ra sao? Hãy cùng với Luật Sư 247 tìm hiểu qua bài viết sau.

Căn cứ pháp lý

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Hành vi cướp tài sản bị khép vào tội nào?

Theo Điều 168, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hành vi cướp tài sản được quy vào tội cướp tài sản với các dấu hiệu được quy định như sau:

Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Vậy người có hành vi cướp tài sản của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản.

Cấu thành tội phạm tội cướp tài sản

Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản được quy định như sau:

a. Mặt khách quan

– Dùng vũ lực: là dùng sức mạnh vật chất tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản; hoặc bất kỳ người khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội nhằm đè bẹp sự phản kháng; làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản.

– Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là đe dọa dùng tức khắc sức mạnh vất chất được thể hiện bằng lời nói; cử chỉ hành động đe dọa sẽ tấn công người quản lý tài sản; hoặc những người khác nếu không đáp ứng yêu cầu; hoặc có ý định ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội không dùng vũ lực; hoặc đe dọa dùng vũ lực; xong bằng mọi cách thức, thủ đoạn; người phạm tội đã đưa nạn nhân vào tình trạng không còn khả năng quản lý được tài sản như; dùng ê te, các loại thuốc ngủ đầu độc nạn nhân; dùng dây chằng qua đường làm nạn nhân vấp ngã để cướp tài sản…

Ngoài ra, tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức; và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực; đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực; hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được; không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.

b. Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi.

c. Khách thể

Khách thể là đối tượng bị tội phạm xâm hại. Trong trường này, đó là quan hệ nhân thân và xâm phạm trực tiếp quan hệ sở hữu tài sản đã được pháp luật bảo vệ

d. Chủ thể

Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 14 tuổi.

Tội cướp tài sản bị xử lý như thế nào?

Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi cướp tài sản của nam thanh niên trên có thể phải chịu một trong những mức hình phạt sau:

Khung 1:

Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm với tội

Nếu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Khung 2:

Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm với tội

Trong trường hợp: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn gây nguy hiểm khác; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tái phạm nguy hiểm.

Khung 3

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm

Trong trường hợp: chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thường cơ thể từ 31% đến 60%; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Khung 4

Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm với tội

Tù chung thân trong trường hợp: chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; làm chết người; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Hình phạt bổ sung đối với hành vi cướp tài sản

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tội cướp tài sản có giai đoạn phạm tội chưa đạt không?

Với các tình tiết của vụ việc; ta biết được rằng đối tượng Nghĩa đã bị lực lượng chức năng bắt giữ khi chưa thực hiện xong mục đích cướp tài sản của mình.

Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS là tội phạm cấu thành hình thức. Khi một người thực hiện hành vi được miêu tả trong điều luật “dùng vũ lực; de dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” thì cấu thành tội phạm này; bất kể là người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không. Tội cướp tải sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi được mô tả trên.

Tội cướp tài sản vẫn có giai đoạn phạm tội chưa đạt. Đó là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan; là những hành vi thể hiện sự bắt đầu của hành vi khách quan và kế tiếp ngay sau đó là hành vi khách quan sẽ xảy ra. Ví dụ: hành vi nhặt dao để đâm; lắp đạn để bắn… mà chưa thực hiện được hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của tội cướp. Như vậy, rõ ràng người phạm tội này mới chỉ thực hiện được hành vi đi liền trước; và do nguyên nhân ngoài ý muốn mà chưa kịp thực hiện được hành vi khách quan được mô tả trong luật thì đó là giai đoạn phạm tội chưa đạt của tội cướp tài sản.

Chưa gây thiệt hại trong tội cướp tài sản có phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?

Tình tiết giảm nhẹ là gì?

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội phạm giảm đi so với trường hợp bình thường; và do đó được coi là căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội đó.

Theo điểm h, khoản 1, điều 51, Bộ luật hình sự; về các tình tiết giảm nhẹ có quy định như sau:

Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn được coi là 1 tình tiết giảm nhẹ.

Tuy nhiên đến nay; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể; nên trên thực tế trong mỗi vụ án; ở mỗi địa phương còn có cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất; nhất là trong các vụ án trộm cắp tài sản.

Có thể coi việc chưa gây thiệt hại khi cướp tài sản là 1 tình tiết giảm nhẹ không?

Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này không thể coi đây là 1 tình tiết giảm nhẹ.

Vì trong trường hợp này đã xác định đối tượng Nghĩa phạm tội “cướp tài sản” thuộc trường hợp chưa đạt thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “chưa gây thiệt hại”.

Hay nói các khác tình tiết “chưa gây thiệt hại” ở đây được hiểu như là dấu hiệu định tội của trường hợp phạm tội chưa đạt nên việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “chưa gây thiệt hại” trong trường hợp này là phù hợp với tinh thần của khoản 3 Điều 51 BLHS quy định “các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”.

Như vậy, đối tượng vẫn phải chịu 1 trong những mức án được quy định tại điều 168, BLHS về tội cướp tài sản; và không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ.

Mời bạn xem thêm bài viết:

Hành vi lừa đảo góp vốn kinh doanh ngoại tệ bị xử lý như thế nào?
Tội cướp giật tài sản xử lý thế nào theo quy định pháp luật hình sự
Lập vi bằng lừa đảo bán nhà chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào?

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về “Hành vi cướp tài sản sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?” . Nếu có thắc mắc gì về vấn đề này xin vui lòng liên hệ: 0833102102

Câu hỏi thường gặp

Phân biệt Tội cướp tài sản và Tội cướp giật tài sản?

Đối với 2 loại tội này, chúng ta phân biệt thông qua các hành vi:
Đối với tội cướp tài sản: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đối với tội cướp giật: không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực mà lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, bằng thủ đoạn tinh vi để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.

Thế nào là phạm tội chưa hoàn thành?

Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Là trường hợp người phạm tội vì nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi).

5/5 - (1 bình chọn)
Chuyên mục:
Hình sự

Trả lời