Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội?

28/10/2021
Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội?
21
Views

Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội?

Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý. Việc áp dụng biện pháp tạm giam có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của họ. Vậy Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội là gì? Hãy cùng Luật Sư 247 làm rõ vấn đề này.

Căn cứ pháp lý

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)     

Bộ luật hình sự 2015

Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT

Người dưới 18 tuổi phạm tội là gì?

Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm; bị khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Các nguyên tắc chung khi xem xét căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội:

+Biện pháp tạm giam là biện pháp cần thiết cuối cùng khi việc áp dụng biện pháp giám sát; và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.

+Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp; và sự cần thiết của biện pháp tạm giam; phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp khác nếu xét thấy có vi phạm pháp luật; hoặc không còn cần thiết.

+Việc tạm giam phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi; nơi tạm giam phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi; mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi.

Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội?

Đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:

– Thứ nhất: Người bị buộc tội phạm vào một trong các tội quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015. Chẳng hạn như: Tội giết người,Tội hiếp dâm,…

– Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS, cụ thể là:

+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối; cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng; bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:

– Thứ nhất: Bị can, bị cáo bị điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.

– Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS như đã trình bày ở phần trên.

Ngoài ra, bị can, bị cáo từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam đối với tội nghiêm trọng do vô ý; tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu trong thời gian điều tra; truy tố, xét xử (có thể đang bị áp dụng hoặc không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác); họ tiếp tục phạm tội mới, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Việc tạm giam trong những trường hợp nêu trên thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tạm giam; người ra lệnh tạm giam người dưới 18 tuổi phải thông báo cho người đại diện hợp pháp của họ biết.

Các trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi

– Chưa áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác trước khi áp dụng biện pháp tạm giam;

– Khi chưa có đủ chứng cứ chứng minh rằng họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS;

– Người bị buộc tội là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS;

– Người bị buộc tội là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm các tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 419 BLTTHS.

– Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là phụ nữ có thai; hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng; nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 119 BLTTHS.

Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

Thời hạn tạm giam để điều tra:

Không quá 40 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 02 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; không quá 02 tháng 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp; xét cần phải gia hạn điều tra thì việc gia hạn tạm giam được tính như sau; Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 20 ngày; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 40 ngày; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 02 tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 02 lần; mỗi lần không quá 02 tháng 20 ngày.

Thời hạn tạm giam để truy tố:

Không quá 13 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp cần thiết; Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn tạm giam để truy tố; nhưng không quá 07 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 10 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; và 20 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm:

Không quá 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 40 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng; không quá 50 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; và không quá 70 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với vụ án phức tạp; thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết; nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử; thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.

Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm:

Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì thời hạn tạm giam không quá 40 ngày; đối với Tòa án nhân dân cấp cao thì thời hạn tạm giam không quá 60 ngày.

Mời bạn xem thêm bài viết:

+Khi nào thì áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự?

+Thẩm quyền XXST các VAHS có bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội?

+Bị tạm giam có được gặp người nhà hay không theo pháp luật quy định?

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về  “Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với người dưới 18 tuổi phạm tội?”. Nếu có thắc mắc gì về vấn đề này xin vui lòng liên hệ: 0833102102

Câu hỏi thường gặp:

Người dưới 18 tuổi phạm tội là gì?

Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm:

Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì thời hạn tạm giam không quá 40 ngày; đối với Tòa án nhân dân cấp cao thì thời hạn tạm giam không quá 60 ngày.

Thẩm quyền quyết định việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam?

Trong giai đoạn điều tra, truy tố việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định (Điều 125, Điều 241, khoản 7 Điều 173 BLTTHS); trong giai đoạn chuẩn bị xét xử việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định (khoản 1 Điều 278, khoản 1 Điều 347 BLTTHS); trong giai đoạn xét xử do Hội đồng xét xử quyết định (khoản 3 Điều 278, khoản 3 Điều 347 BLTTHS).

5/5 - (1 bình chọn)
Chuyên mục:
Hình sự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *