Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà không?

27/03/2022
630
Views

Chào Luật sư, hiện tại tôi còn nợ mấy tháng tiền thuê nhà. thời gian giãn cách xã hội tôi không đi làm được nên gặp khó khăn. Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà? Mong Luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Căn cứ pháp lý

Hợp đồng thuê nhà là gì?

Hợp đồng thuê nhà là một dạng cụ thể của hợp đồng thuê tài sản; hợp đồng thuê được hình thành trên sự thỏa thuận của các bên; bên cho thuê giao nhà cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn; bên thuê phải trả tiền thuê nhà.

Hợp đồng thuê nhà ở; hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015; Luật nhà ở 2014 và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đặc điểm:

Hợp đồng thuê nhà là hợp đồng có đền bù. Trong đó; một bên nhận được lợi ích từ bên kia chuyển giao thì phải chuyển giao lại cho bên kia một lợi ích tương ứng.

+ Hợp đồng thuê nhà là hợp đồng song vụ. Theo đó; hợp đồng sẽ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng mà trong quan hệ nghĩa vụ đó mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. Tương ứng với quyền của bên cho thuê là nghĩa vụ của bên thuê và ngược lại; tương ứng với quyền của bên thuê là nghĩa vụ của bên cho thuê nhà.

+ Hợp đồng thuê nhà là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tài sản. Bên thuê có quyền sử dụng nhà cho thuê trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà không?

Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà?

Việc thuê nhà nhưng phải ngừng kinh doanh được xem xét thuộc vào trường hợp “sự kiện bất khả kháng”; hoặc “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” theo Điều 420 Bộ luật Dân sự. Bởi khi ký hợp đồng; các bên đều không lường trước được diễn biến của Covid-19 cùng các biện pháp phòng chống dịch bệnh của chính quyền.

Tuy vậy; người thuê nhà vẫn có nghĩa vụ trả tiền bởi “kinh doanh thua lỗ không có nghĩa bắt chủ nhà thua lỗ theo”; đặc biệt với trường hợp bên cho thuê cũng gặp khó khăn như phải đi vay để đầu tư mặt bằng hoặc thuê nhà để cho thuê lại.

Người thuê nhà phải chứng minh được nếu giữ nguyên hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn cho mình bởi “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” do Covid-19. Họ có thể dẫn các quyết định cách ly; phong tỏa; cấm kinh doanh do cơ quan hành chính áp dụng làm bằng chứng cho việc doanh thu sụp giảm hoặc “bằng 0” để yêu cầu thoả thuận “sửa đổi hợp đồng” theo hướng giảm giá.

Thông thường; nếu muốn chấm dứt hợp đồng trước hạn; người thuê nhà có thể chịu phạt theo thỏa thuận khi ký kết. Tuy nhiên; trường hợp dịch bệnh “ảnh hưởng nghiêm trọng” còn được coi là sự kiện bất khả kháng; ví dụ thuê mặt bằng tại khu du lịch nhưng Covid-19 khiến không có khách du lịch. Lúc này, người thuê có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng mà không phải chịu phạt.

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà của các bên

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên cho thuê

Căn cứ khoản 2 điều 132 luật nhà ở 2014; bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Bên cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà ở xã hội cho thuê không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng điều kiện theo quy định của Luật này;

+ Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

+ Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng;

+ Bên thuê tự ý đục phá; cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;

+ Bên thuê chuyển đổi; cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;

+ Bên thuê làm mất trật tự; vệ sinh môi trường; ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố; trưởng thôn; làng, ấp, bản, buôn, phum; sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục

+ Khi chưa hết hạn hợp đồng thuê nhà ở mà bên cho thuê thực hiện cải tạo nhà ở và được bên thuê đồng ý thì bên cho thuê được quyền điều chỉnh giá thuê nhà ở. Giá thuê nhà ở mới do các bên thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê và phải bồi thường cho bên thuê theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà không?

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên thuê

Căn cứ khoản 3 điều 132 luật nhà ở 2014; bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

+ Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;

+ Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận;

+ Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.

Có thể bạn quan tâm

Thông tin liên hệ Luật Sư X

Trên đây là tư vấn của Luật Sư X về vấn đề “Trong thời gian giãn cách xã hội có thể không trả tiền thuê nhà?“. Chúng tôi hy vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Để biết thêm thông tin chi tiết và nhận thêm sự tư vấn, giúp đỡ khi có nhu cầu về các vấn đề liên quan đến ủy quyền xác nhận tình trạng hôn nhân; tạm ngừng kinh doanh; giấy phép bay Flycam…. của Luật Sư X, hãy liên hệ: 0833.102.102.

Hoặc qua các kênh sau:

Facebook: www.facebook.com/luatsux
Tiktok: https://www.tiktok.com/@luatsux
Youtube: https://www.youtube.com/Luatsux

Câu hỏi thường gặp

Bên tiến hành đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà có phải thông báo trước cho bên còn lại biết?

ăn cứ khoản 4 điều 132 luật nhà ở 2014; Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày; trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà có phải bồi thường thiệt hại?

Căn cứ khoản 1; 5 điều 428 bộ luật dân sự 2015 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng như sau:
– Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng; hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
– Trường hợp ngược lại bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải bồi thường.

5/5 - (2 bình chọn)
Chuyên mục:
Dân sự

Comments are closed.