Các trường hợp người lao động không phải thông báo tìm kiếm việc làm

14/07/2021
Các trường hợp người lao động không phải thông báo tìm kiếm việc làm
347
Views

Thất nghiệp là vấn đề được đặt ra của mọi quốc gia, đặc biệt ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Một trong những giải pháp mà Nhà nước ưu tiên thực hiện là áp dụng chính sách BHTN được quy định theo Luật Việc làm số 38/2013/QH13; theo đó, hàng tháng, doanh nghiệp và người lao động mỗi bên đóng 1% tiền lương vào Quỹ BHTN. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên trong tất cả các cơ quan, đơn vị bắt buộc phải tham gia BHTN theo quy định. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước đó. Vậy các trường hợp người lao động không phải thông báo tìm kiếm việc làm?

Xin chào Luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: Hiện nay người lao động sẽ không phải lên trung tâm dịch vụ việc làm hàng tháng để thông báo tìm kiếm việc làm trong những trường hợp nào?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chúng tôi. Luật sư 247 sẽ giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ pháp lý

Không phải khai báo tìm kiếm việc làm hằng tháng được hiểu như thế nào?

Trợ cấp thất nghiệp là một chế độ của bảo hiểm xã hội, là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất thu nhập do chấm dứt hợp đồng lao động, dựa trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Khi nhận được trợ cấp thất nghiệp, người lao động có trách nhiệm phải thực hiện khai báo tìm kiếm việc làm hằng tháng bởi trợ cấp thất nghiệp chỉ nhằm mục đích hỗ trợ tạm thời cho người lao động trong thời gian chưa tìm kiếm được việc làm.

Xem thêm: Khi nào bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Trách nhiệm thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng của người lao động

     Theo điều 52 Luật Việc làm 2013 thì:

“1. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng người lao động phải trực tiếp thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc tìm kiếm việc làm, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;

b) Trường hợp bất khả kháng.

2. Đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì người lao động có trách nhiệm thông báo cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều này.”

     Theo đó, khai báo tìm kiếm việc làm hàng tháng là 01 trong những bước bắt buộc để người lao động có thể nhận được tiền trợ cấp thất nghiệp. Cứ mỗi tháng, theo lịch hẹn của trung tâm dịch vụ việc làm, người lao động có trách nhiệm báo với trung tâm về tình hình tìm kiếm việc làm của mình. Căn cứ vào kết quả thông báo, trung tâm quyết định sẽ tiếp tục hoặc ngừng chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động.

Trường hợp người lao động không phải thông báo tìm kiếm việc làm

     Theo khoản 2 điều 10 thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH thì người lao động sẽ không phải lên thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng mà vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong những trường hợp sau:

  • Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, nữ từ đủ 55 tuổi trở lên;
  • Người lao động được xác định thuộc danh mục bệnh phải điều trị dài ngày có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;
  • Nghỉ hưởng chế độ thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền. Riêng đối với trường hợp nam giới có vợ chết sau khi sinh con mà phải trực tiếp nuôi dưỡng con thì giấy tờ xác nhận là giấy khai sinh của con và giấy chứng tử của mẹ;
  • Đang tham gia khóa học nghề theo quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và có xác nhận của cơ sở dạy nghề;
  • Thực hiện hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 03 tháng.

     Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người lao động thuộc một trong các trường hợp tại các Điểm b, c, d, đ của Khoản này thì người lao động phải gửi thư bảo đảm hoặc ủy quyền cho người khác nộp giấy đề nghị không thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm theo Mẫu số 17 ban hành kèm theo Thông tư này và kèm theo bản chính hoặc bản sao có chứng thực một trong các giấy tờ theo quy định nêu trên đến trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, trường hợp gửi theo đường bưu điện thì tính theo ngày gửi ghi trên dấu bưu điện. Sau khi hết thời hạn của một trong các trường hợp nêu trên, người lao động phải tiếp tục thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định.

Mời bạn xem thêm bài viết:

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về “Các trường hợp người lao động không phải thông báo tìm kiếm việc làm “. Nếu co thắc mắc gì về vấn đề này xin vui lòng liên hệ: 0936408102

Câu hỏi thường gặp

Nghỉ ngang có được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Căn cứ Điều 49 Luật việc làm 2013 quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp phải đáp ứng những điều kiện sau mới có thể được hưởng trợ cấp thất nghiệp:
Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (trừ các trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, HĐLV trái pháp luật; đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hằng tháng);
Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn;
Nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm;
Chưa tìm được việc sau 15 ngày.
Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên, người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cũng có nghĩa rằng, nếu thiếu đi một trong các điều kiện trên, người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tự ý nghỉ việc có được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Vì hành vi “tự ý nghỉ việc” được xem là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên người lao động cũng sẽ mất ra nhiều quyền lợi. Ngoài những quyền lợi như không được nhận lương, bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động thì người lao động cũng sẽ không được nhận trợ cấp thất nghiệp. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 49 Luật việc làm 2013 quy định như sau:
Điều 49. Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
Như vậy,  người lao động tự ý nghỉ việc dù vì bất kỳ lý do cũng sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi, vì vậy, đừng vì một phút bốc đồng, thiếu kiên nhẫn mà đánh mất đi nhiều quyền lợi của mình. 

5/5 - (1 bình chọn)
Chuyên mục:
Lao động

Trả lời